Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi

Lịch sử cách mạng Việt Nam gắn với tên tuổi, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng Việt Nam, Danh nhân văn hóa thế giới. Với tấm lòng yêu nước thương dân và sự đồng cảm trước cảnh ngộ của muôn triệu người cùng khổ, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và nhận ra chân lý: con đường cứu nước là con đường cách mạng vô sản. Từ đây, trong tư tưởng của người, chủ nghĩa yêu nước gắn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, độc lập dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội và giải phóng con người. Đó chính là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày nay, trước bối cảnh quốc tế đầy sôi động và phức tạp, kéo theo sự biến đổi lớn về văn hóa – tư tưởng, nhiều nhận thức mới đã xuất hiện, song với những giá trị và ý nghĩa to lớn của mình, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi dù cho thế giới đã và sẽ còn đổi thay.

Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi là cuốn sách tập hợp một số bài nghiên cứu đã được công bố của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay – khi việc nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo chỉ thị của Bộ Chính trị tiếp tục được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Sách do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành.

Lưu bản nháp tự động

Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi là một trong những ấn phẩm tiêu biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tái bản năm 2021

Cuốn sách mở đầu bằng “những kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ”. Đó là ấn tượng sâu sắc của Đại tướng trong lần đầu tiên được gặp Bác. Con người Bác vô cùng giản dị, khác hẳn với hình ảnh về con người vĩ đại mà lâu nay ông vẫn tưởng tượng. “Bác là một con người giản dị và vĩ đại, càng giản dị lại càng vĩ đại”. Sau này, được sống và làm việc cùng Bác, ấn tượng của buổi gặp ban đầu đó càng thêm sâu sắc và càng được khẳng định. Đó là những lời căn dặn của Bác – lời dặn mà Đại tướng “suốt đời ghi nhớ”, Bác nói: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”; “Dĩ bất biến ứng vạn biến”; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”… Những lời nói ấy, những tư tưởng ấy là nguồn động viên tinh thần to lớn, thôi thúc toàn thể dân tộc Việt Nam ta đứng lên chiến đấu, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi to lớn. Trong Di chúc để lại, Bác nói điều “ham muốn tột bậc” của Bác “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, đó cũng chính là lý tưởng, là mục tiêu, là đường lối của cách mạng Việt Nam. Đối với Đại tướng, ấn tượng về Bác còn là sự quan tâm ân cần và bình dị của Bác đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ; là phong cách lãnh đạo tập thể của Bác – tập thể và dân chủ; là lý luận đi đôi với thực tiễn; là lời nói đi đôi với việc làm; là sự tỉ mỉ, chú trọng của Bác trong văn phong – luôn ngắn gọn, dễ hiểu, gần gũi với đồng bào; là sự quan tâm của Bác dành cho công tác xây dựng Đảng… Những kỷ niệm, những ấn tượng đó đã thực sự trở thành động lực và niềm tin đối với Đại tướng cũng như đối với mỗi người dân Việt Nam.

Bên cạnh đó, cùng với việc khẳng định “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn”, đồng thời là người chiến sĩ đã dành cả cuộc đời để đấu tranh không mệt mỏi cho hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc, Đại tướng đã làm rõ “nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh”. Theo ông, việc xác định nguồn gốc góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để hiểu bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin và các học thuyết chính trị – xã hội khác. Trong đó, ba nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là: chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa, nhân ái Việt Nam; tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây; chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác – Lênin, song Hồ Chí Minh đã có những luận điểm sáng tạo, góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là những vấn đề về cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một số nước phương Đông.

Trong bài phát biểu tại Hội thảo quốc tế Hồ Chí Minh – Việt Nam – hòa bình thế giới, tổ chức tại Cancútta (Ấn Độ), Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi”. Tư tưởng của Người là một hệ thống, khái quát lại đó là độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi người, hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, sự phát triển các quan hệ văn hóa và nhân văn của thời đại. Với nội dung và giá trị của mình, tư tưởng Hồ Chí Minh là bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới của Việt Nam, có thể góp phần vào con đường phát triển của các nước phương Đông và trên phạm vi rộng hơn nữa. Đối với nhân dân Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh không những đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn, mà ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng của Người còn tiếp tục được phát triển sáng tạo để tìm ra con đường đổi mới quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống hòa bình, văn minh và hạnh phúc cho nhân dân.

Trong những bài nghiên cứu được đề cập ở phần sau của cuốn sách, Đại tướng đã tập trung phân tích và khẳng định nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, công tác dân vận, vấn đề dân tộc, xây dựng văn hóa Việt Nam, vấn đề ngoại giao và tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng thành, chiến thắng của quân đội ta.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới”:

Đối với Người, giải phóng dân tộc và đất nước không tách rời giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng loài người. Để đưa công cuộc giải phóng ấy đi đến thắng lợi, để xây dựng thành công xã hội mới, cần phải có lực lượng. Lực lượng ấy là con người, là nhân dân, là cả dân tộc và nhân loại. Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh là tư tưởng “có dân thì có tất cả”, dựa vào dân, tin ở dân, đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của con người, của từng cá nhân và của cả cộng đồng dân tộc. Những tư tưởng ấy là nền tảng của chiến lược con người mà hiện nay chúng ta cần xây dựng và thực hiện. Theo Người, con người mới cần xây dựng là con người có lý tưởng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức làm chủ và tinh thần làm chủ; là con người có phẩm chất và đạo đức, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng; là con người ham hiểu biết, có kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật; ủng hộ cái mới, có tinh thần tìm tòi, sáng tạo; có lối sống lành mạnh, giản dị, phong cách làm việc khoa học, có tác phong điều tra nghiên cứu; luôn đặt việc công lên trên hết, có nhân cách, có bản lĩnh, cách mạng và khoa học, trung thực và đoàn kết, chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội dưới mọi hình thức. Để làm được điều đó, việc xây dựng con người phải có ý định và kế hoạch rõ ràng, cơ chế và chính sách phải cụ thể, toàn diện, bởi “gốc có vững cây mới bền/ xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận”:

Thực chất của công tác dân vận là xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Theo Người: “dân vận kém thì việc gì cũng kém; dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Trong kháng chiến, cuộc chiến tranh của ta là một cuộc chiến tranh thực sự của nhân dân, do đó, đối tượng của công tác dân vận là mỗi người dân, là toàn dân. Toàn dân đoàn kết kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo nên sức mạnh to lớn để đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày nay, tổng kết công tác dân vận trong kháng chiến sẽ đưa lại những kinh nghiệm quý giá: công tác dân vận cần làm cho mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ, nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn của đất nước, đoàn kết phấn đấu giữ vững ổn định chính trị – xã hội và bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Trong tình hình mới, nhiệm vụ của dân vận hết sức nặng nề, đòi hỏi cán bộ dân vận phải có những phẩm chất và năng lực mới.

“Quán triệt hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc”:

Bác nói: “Đồng bào tất cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà”. Đó là tư tưởng của Bác về một nước Việt Nam thống nhất, về một dân tộc Việt Nam thống nhất, về cộng đồng các dân tộc sinh sống trên dải đất Việt Nam, luôn sát cánh bên nhau, cùng tiến lên, không ai có thể chia cắt, chia rẽ. Dân tộc Việt Nam có truyền thống đấu tranh bất khuất chống lại mọi kẻ thù xâm lược, lao động cần cù và nhẫn nại, dù là dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, đều tham gia xây dựng một bản sắc văn hóa dân tộc chung – nền văn hóa Việt Nam, mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Khi nói về chính sách dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả miền ngược và miền xuôi. Theo Người, đoàn kết và bình đẳng phải đi đôi với nhau, không những bình đẳng về chính trị mà còn phải bình đẳng về kinh tế và văn hóa, càng bình đẳng về mọi mặt thì sự đoàn kết giữa các dân tộc càng được củng cố. Vì vậy, Đảng và Chính phủ ta rất coi trọng vấn đề dân tộc thiểu số với những chủ trương, chính sách quan trọng nhằm mở mang kinh tế và văn hóa ở miền núi.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa Việt Nam”:

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề văn hóa. Theo Người: …“văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Không chỉ đề xuất khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng, Người còn cho rằng, văn hóa là một kiến trúc thượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi văn hóa mới có thể kiến thiết và có đủ điều kiện để phát triển. Người cũng nói đến văn hóa – văn nghệ, đến các sáng tác văn học, coi văn hóa – nghệ thuật là một mặt trận. Ngày nay, trước tình hình mới, để vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, cần có những quyết sách đúng đắn và kiên quyết để ngăn chặn những tư tưởng và hành động sai trái, tiếp tục phát triển đúng hướng nền văn hóa mới của đất nước trên mặt trận tư tưởng, trong sự nghiệp xây dựng con người, xây dựng cuộc sống, xây dựng lối sống lành mạnh trong xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng “độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội” chính là nền tảng tư tưởng và lý luận của nền văn hóa Việt Nam. Vì vậy, để phát triển sáng tạo nền văn hóa Việt Nam trong thời đại mới, vấn đề quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định là giáo dục sâu rộng cho mỗi người Việt Nam, cho toàn thể đồng bào và chiến sĩ thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Từ đó, góp phần xây dựng văn hóa trở thành mục tiêu, động lực, là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội của mỗi dân tộc.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta”:

Thứ nhất, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn với mục tiêu cách mạng là độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, Người đã lãnh đạo xây dựng một quân đội luôn gắn bó với dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; thực sự là quân đội của nhân dân, của dân tộc, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mang bản chất của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Thứ ba, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh yêu cầu quân đội ta phải phát huy tài thao lược, cách đánh giặc của dân tộc và học tập kinh nghiệm của các nước; đánh giặc với sức mạnh toàn dân, toàn diện, dám lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, kiên cường, dũng cảm kết hợp với mưu trí, sáng tạo. Thứ tư, Người coi trọng lý luận, song luôn gắn lý luận với thực tiễn, luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng lý luận, không giáo điều, máy móc. Thứ năm, chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, luôn giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đó là những nội dung sâu sắc, không chỉ góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho quân đội ta đánh thắng mọi kẻ thù, hoàn thành mọi nhiệm vụ, làm nên những kỳ tích lừng lẫy, mà còn là những bài học chúng ta cần nắm vững để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng quân đội trong tình hình mới.

“Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh”:

Là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về đường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và quan hệ quốc tế, các chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta. Nội dung chính yếu của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm: 1) độc lập tự chủ, tự lực tự cường; 2) tư tưởng hòa bình chống chiến tranh phi nghĩa theo truyền thống nhân văn của dân tộc; 3) “thêm bạn, bớt thù”; 4) “dĩ bất biến ứng vạn biến” là tư duy biện chứng, là phương châm, nguyên tắc xem xét và giải quyết những vấn đề chiến lược và sách lược; 5) ngoại giao là một mặt trận, một nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng. Chiến lược ngoại giao là một bộ phận trong chiến lược chung của cách mạng; bản thân nó lại có nội dung tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Vì vậy, vận dụng và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh sẽ góp phần tích cực trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với những nội dung sâu sắc trên, trước đòi hỏi của công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hiện nay, bài nghiên cứu “Nắm vững quan điểm thực tiễn, phát triển lý luận, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành những thắng lợi mới” của Đại tướng được đặt ở cuối cuốn sách như một sự nhấn mạnh về tầm quan trọng của nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc coi trọng thực tiễn, nắm vững quan điểm thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tổng kết thực tiễn, từ đó tìm ra quy luật, phát triển sáng tạo lý luận, giải đáp đúng những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Chỉ khi nắm vững thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, chúng ta mới thấy rõ mâu thuẫn chủ yếu nhất của cách mạng Việt Nam ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, từ đó có định hướng, giải pháp đúng đắn, trong đó đường lối đúng đắn của Đảng là yếu tố đóng vai trò quyết định. Đường lối đó phải phù hợp với thực tiễn và quy luật vận động của xã hội nước ta, phản ánh được ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân và xu thế phát triển của thời đại.